Thầy pháp chuyên “tạo linh hồn” cho vong nhân miệt biển

0
1952
Thầy pháp Nguyễn Thành Trung. Ảnh: Mỹ Khê

Hôm trước của ngày hội Khao lề thế lính Hoàng Sa, chúng tôi kéo nhau lên đồi Thới Lới để ngắm chiều tà và thưởng thức hải sản. Ngang qua Âm Linh tự, thấy các bô lão đã xôn xao chuẩn bị tế lễ, cáo tiền nhân. Tiếng ốc u được ai đó thổi lên, trầm buồn nhưng vang xa, ngân vọng trong trời chiều như tiếng oan hồn khiến ai nấy đều sởn da gà.

Giữa hòn đảo bốn bề mênh mông sóng nước này, mặt trời lặn cũng chui tụt xuống biển. Màn đêm ập đến đen ngòm, gió từ biển thổi qua ràng rạc mấy nương đậu bắp, nghe lạo xạo như có bóng người lướt qua. Dưới ánh sao mờ, những ngôi mộ gió, những hình nộm canh rẫy bắp cứ thoắt ẩn hiện… Tôi tự trấn an, rằng dưới những ngôi mộ gió kia chỉ là hình nhân đất sét, nhưng rồi vẫn cứ lạnh dọc cột sống, bắt đầu thấy sợ…

Người chết mất xác, hồn có về?

Tôi hỏi đồng nghiệp, nhà báo Trần Đăng – cũng là “nhà Lý Sơn học”, liệu có tồn tại linh hồn những vong nhân dưới những nấm mộ gió không xác người kia không?
Anh lại trả lời tôi với tâm sự của… nhà thơ. Rằng mộ gió ở Lý Sơn không đơn thuần chỉ là những độn cát ven biển, bị gió xây thành nấm, dịch chuyển bất ổn hay là những sinh phần mà người dân vẫn “xí đất” như ở những miền quê khác. Mộ gió ở miệt biển này có linh hồn thật sự. Rằng mọi tình cảm thiêng liêng dù không có hình hài cụ thể, không đụng chạm được, nhưng có thể cảm nhận, nghe thấy nó, giống như gió vậy. Có mà như không, không mà lại có.
Từ gió trong “mộ gió” ở đây có ý nghĩa như vậy. Tình yêu thương dù có dậy sóng trong lòng, nhưng cũng sẽ mơ hồ, mông lung nếu không có một sự hiện hữu vật thể nào đó để có thể sờ nắn được ở trên đời. Bởi vậy, người dân Lý Sơn từ xa xưa đã nghĩ đến việc rước vong linh, nhập hồn vào hình nhân là đất nặn để dựng lên những ngôi mộ gió, thờ những người đàn ông bỏ mạng khi đi canh giữ Hoàng Sa và những ngư phủ bỏ mạng vĩnh viễn ngoài biển Đông bây giờ.

Từ hơn 200 năm trước, khi cai đội Phạm Quang Ảnh cùng 70 suất lính ra Hoàng Sa rồi mãi mãi nằm lại với biển, Vua Gia Long đã thân chinh ra tận Lý Sơn làm lễ chiêu hồn cho họ. Một thầy pháp trong đoàn của triều đình đã lên núi Giếng Tiền lấy đất sét về nhào nặn thành hình nhân, lập đàn cúng tế, gọi hồn về nhập tượng. Hình nhân cũng mặc áo dài khăn xếp, cũng trong quan ngoài quách và đem an táng theo nghi thức thông thường.

Kể từ đó, phong tục tồn tại đời này sang đời khác và vẫn được giữ gìn cho tới hôm nay. Ngôi mộ của cai đội Phạm Quang Ảnh giờ cũng linh thiêng trong tâm trí người dân Lý Sơn. Tôi còn nhớ như in, mùa đông năm 2010, khi cơn bão vừa lặng cũng là lúc dọc dài mảnh đất miền Trung nhận được hung tin ngư dân mất tích. Khắp nơi tang tóc lập đàn cúng tế, cầu hồn.

Tôi ghé thăm nhà quả phụ Ngô Thị Việt – vợ của ngư phủ xấu số Võ Minh Tân. Ông Tân cùng 5 thuyền viên khác là con dân của Lý Sơn đã nằm lại với trùng khơi nơi vùng biển Hoàng Sa trong trận bão biển vừa tan này. Cái lạnh lẽo của chiều đông se sắt ấy như vẫn còn ngập trong căn nhà bé nhỏ. Nhưng mọi nỗi buồn dường như đã dồn vào đôi mắt sâu thẳm, với cái nhìn vợi xa của chị Việt. Bởi, theo chị, “kể từ ngày làm lễ rước linh, nhập hồn để xây mộ gió cho anh ấy, mẹ con tôi đã thấy ấm lòng. Anh ấy đã về với gia đình”.

Vâng, với người miệt biển, linh hồn vong nhân đã hiện hữu không chỉ trong tâm trí người thân, mà còn có thể “sờ nắn” được bên ngôi mộ gió hình nhân.

Thầy pháp đời thứ 7

Ở Lý Sơn có nhiều dòng tộc thầy pháp, những người chuyên tạo xác, gọi hồn cho những vong nhân. Người trước dạy người sau, họ truyền nghề cho con cháu, qua nhiều thế hệ.

Tôi may mắn diện kiến thầy pháp Nguyễn Thành Trung. Ông Trung đã 74 tuổi, là thế hệ thứ 7 liên tiếp của gia đình thầy pháp họ Nguyễn ở Lý Sơn. Bây giờ ông ấy đã tha phương, sống ẩn dật một vùng núi tận Bình Phước, nhưng cứ đúng dịp lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa, ông lại về quê cầu tế, giống như nghiệp thầy pháp ám vào mình.

Trong chánh lễ khao lề, thầy pháp Trung như một nghệ sĩ thực thụ khi lên đồng khấn tế. Hai mắt ông trợn ngược, thần sắc phiêu linh, ông đọc một hơi bài văn tế dài hơn 2 giờ đồng hồ để kêu gọi âm binh từng trấn thủ Hoàng Sa, Trường Sa mau mau trở về mà nhận gạo muối, lương thảo.

Rước âm linh trong một lễ khao lề. Ảnh: Mỹ Khê

Bài tế truyền khẩu bằng Hán tự dài lê thê nhưng gần như ông không vấp váp một từ nào. Nội dung chủ yếu là mời âm binh là những tiền nhân từng là cai đội, binh phu được cử ra trấn thủ Hoàng Sa và Trường Sa về dự lễ tế. Sau khi phân chia gạo muối, lương thảo là những lời động viên từ hội đồng các gia tộc để các binh phu yên tâm mà nhằm Hoàng Sa thẳng tiến. Các hình nhân thế mạng cũng được chiêu hồn, thả theo tàu để an lòng người lính chuẩn bị vượt trùng khơi…

Thầy Trung cho biết, những dòng văn khấn tế dường như có sẵn trong máu, trong ký ức của ông. Ông đã chứng kiến, nghe, thuộc nó từ khi ông nội của mình còn hành nghề thầy pháp, nặn hình nhân, chiêu hồn cho những vong nhân mất tích ở quê mình. Rồi bao năm theo cha kế tục nghề của ông nội, ông Trung đã trở thành thầy pháp thế hệ thứ 7 của dòng tộc Nguyễn Lý Sơn tự lúc nào chẳng hay.

Mô tả công đoạn tạo xác hình nhân, ông Trung cho biết, đất phải lấy đúng trên núi Giếng Tiền. Trước khi nặn, đất sét phải được giã nhuyễn. Phần làm da thịt thì trộn với quả cây bông gòn. Phần làm trái tim thì trộn đất với lòng đỏ trứng gà. Phần xương cốt được tạo từ cây dâu tằm, bởi loại cây này là hiện thân của cuộc sống thiên biến vạn hóa, sự xoay vần của trời đất. Đàn ông thì 7 nhánh xương sườn, đàn bà thì 9 nhánh. Riêng phần nội tạng được tạo từ than tro của cây sầu đông. Hình nhân ấy được trang điểm, có thần thái, phong cách, hình dáng giống với người đã mất. Sau khi làm lễ chiêu hồn nhập tượng, thân nhân của họ xem như đó là phần xác thịt thật của người thân mình. Ngày làm lễ chiêu hồn cũng được lấy làm ngày giỗ.

Tôi hỏi thầy Trung, bao đời làm nghề thầy pháp, ông có tin thật là có linh hồn vong nhân trong những hình nhân mà ông nhào nặn hay không? “Nếu không tin là có thì tôi đã không làm nghề này từ lâu rồi” – ông Trung kể -“Tôi nhớ, có lần ông nội trong lúc nặn hình nhân, vô tình làm rơi ngụm nước trầu xuống bộ phận sinh dục của tượng đất. Thế rồi, về nhà cha tôi cứ đau ốm liên miên không rõ nguyên nhân, bộ phận sinh dục nam nhưng cứ ra máu định kỳ. Phát hiện điều bất thường, ông tôi mới sực nhớ ngụm nước trầu vô ý trước đó. Thế rồi ông phải xin gia chủ, lập lễ cúng tế, khai quật hình nhân, xóa đi vết trầu đỏ trên tượng. Trở về, tự dưng cha tôi hết đau. Điều đó tôi không biết giải thích thế nào, nhưng tôi luôn tin vào những điều hiển linh khi mình làm nghề thầy pháp”.

Trăng cuối tháng đã ló rạng trên mặt biển, sương xuống mềm cả cỏ khô trên núi Thới Lới, nhưng những câu chuyện ly kỳ về hòn đảo thiêng Lý Sơn của chúng tôi chưa thấy hồi dừng. Xa xa, ánh đèn trên những con thuyền đánh cá nhấp nháy như ánh mắt người. Tôi ngược nhìn lên núi Giếng Tiền, tự dưng thấy buốt lòng.

Thanh Hải.

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here